Thứ Tư, Tháng 5 20, 2026

Phòng, chống mù lòa dựa vào cộng đồng

Phòng, chống mù lòa là một nhiệm vụ y tế có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc. Mất thị lực không chỉ làm giảm chất lượng sống của người bệnh mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến học tập, lao động, sinh hoạt hằng ngày, làm gia tăng gánh nặng chăm sóc cho gia đình và cộng đồng.

Nhìn từ thực tế cơ sở, mù lòa và suy giảm thị lực không chỉ là vấn đề của chuyên khoa mắt, mà còn là vấn đề của cộng đồng, của y tế cơ sở, của nhà trường, gia đình và chính quyền địa phương.

Điều đáng chú ý là nhiều nguyên nhân gây mù lòa hiện nay hoàn toàn có thể phòng tránh hoặc điều trị hiệu quả nếu được phát hiện sớm. Các bệnh lý như đục thủy tinh thể, glôcôm, bệnh võng mạc do bệnh Tiểu đường, tật khúc xạ ở trẻ em thường tiến triển âm thầm, ít biểu hiện rõ ở giai đoạn đầu nên rất dễ bị bỏ qua. Trong thực tế, người dân thường chỉ đi khám khi thị lực đã giảm nhiều, khi đau nhức mắt, đi lại khó khăn hoặc bệnh đã ảnh hưởng rõ đến sinh hoạt. Khi đó, cơ hội điều trị tốt đã bị thu hẹp, chi phí cao hơn và nguy cơ để lại mù lòa không hồi phục cũng lớn hơn.

Vì vậy, phòng, chống mù lòa cần được tiếp cận theo hướng chủ động, lấy cộng đồng làm nơi phát hiện sớm, lấy Trạm Y tế làm đầu mối quản lý, tư vấn, kết nối và lấy tuyến chuyên khoa mắt làm nơi chẩn đoán, điều trị và hỗ trợ chuyên môn. Nói cách khác, không thể chỉ chờ người dân tự tìm đến bệnh viện hoặc cơ sở chuyên khoa, mà phải đưa hoạt động chăm sóc mắt về gần nơi người dân đang sống, học tập, lao động và sinh hoạt hằng ngày.

Từ góc nhìn chuyên môn và thực tiễn cộng đồng, khoảng trống lớn nhất hiện nay không phải lúc nào cũng nằm ở kỹ thuật điều trị, mà còn nằm ở khâu phát hiện sớm, tư vấn đúng và kết nối người bệnh với dịch vụ phù hợp. Trong cộng đồng, suy giảm thị lực thường diễn ra từ từ nên người dân dễ thích nghi và chấp nhận. Người cao tuổi nhìn mờ thường cho rằng đó là chuyện bình thường của tuổi già. Người bệnh Tiểu đường có thể vẫn nhìn rõ nên chưa đi khám mắt định kỳ. Trẻ em bị cận thị nhiều khi không biết mình nhìn kém, chỉ biểu hiện bằng nheo mắt, cúi sát vở, học giảm sút hoặc hay kêu mỏi mắt. Nếu không có người phát hiện, nhắc nhở và hướng dẫn kịp thời, bệnh sẽ được phát hiện muộn.

Do đó, phòng, chống mù lòa tại cộng đồng trước hết là phòng, chống sự chậm trễ: chậm nhận biết, chậm đi khám, chậm chuyển tuyến, chậm điều trị và chậm theo dõi sau can thiệp. Đây cũng là lý do vì sao mô hình dựa vào cộng đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Mô hình này không chỉ là tổ chức các đợt khám lưu động hay tuyên truyền đơn lẻ, mà là một chuỗi hoạt động liên tục gồm truyền thông nâng cao nhận thức, sàng lọc và phát hiện sớm, tư vấn và chuyển tuyến, theo dõi sau điều trị, hỗ trợ phục hồi chức năng và hỗ trợ người bệnh tái hòa nhập học tập, lao động, sinh hoạt.

Đối với trẻ em, phòng, chống mù lòa dựa vào cộng đồng cần gắn chặt với chăm sóc mắt học đường. Tật khúc xạ học đường hiện là vấn đề phổ biến, nếu không được phát hiện sớm sẽ ảnh hưởng đến kết quả học tập và sự phát triển toàn diện của trẻ. Vì vậy, cần đẩy mạnh sàng lọc thị lực định kỳ tại trường học, hướng dẫn giáo viên và phụ huynh nhận biết các dấu hiệu nghi ngờ như nheo mắt, cúi sát khi đọc, than mỏi mắt, đau đầu hoặc học tập giảm sút. Đồng thời, cần tăng cường truyền thông về vệ sinh mắt, tư thế học tập, thời gian sử dụng thiết bị điện tử và thói quen hoạt động ngoài trời hợp lý.

 Bác sĩ Bệnh viện Mắt tư vấn cho bệnh nhân cao tuổi.

Đối với người trưởng thành và người cao tuổi, cần tập trung vào phát hiện sớm đục thủy tinh thể, glôcôm, bệnh võng mạc do Tiểu đường và các bệnh lý mắt liên quan tuổi già. Đây là nhóm bệnh có xu hướng gia tăng cùng với già hóa dân số và gánh nặng bệnh không lây nhiễm. Việc quản lý người mắc tiểu đường tại cộng đồng cần gắn với tư vấn khám mắt định kỳ, bởi tổn thương võng mạc có thể tiến triển âm thầm trong thời gian dài. Với người cao tuổi, việc hỏi bệnh, đo thị lực đơn giản, phát hiện giảm thị lực trong sinh hoạt hằng ngày và chuyển khám chuyên khoa đúng thời điểm có giá trị rất lớn trong ngăn ngừa mù lòa.

Một nội dung rất quan trọng khác là truyền thông thay đổi hành vi. Truyền thông về phòng, chống mù lòa không nên chỉ dừng ở những thông điệp chung chung như “hãy bảo vệ đôi mắt”, mà cần cụ thể, dễ hiểu và gắn với tình huống hằng ngày. Người dân cần được biết rõ khi nào phải đi khám, đi khám ở đâu và vì sao không nên trì hoãn. Cần nhấn mạnh những dấu hiệu cảnh báo như nhìn mờ tăng dần, đau nhức mắt, đỏ mắt kéo dài, chớp sáng, ruồi bay, nhìn méo hình hoặc giảm thị lực đột ngột. Đồng thời, cần tuyên truyền mạnh về việc không tự ý dùng thuốc nhỏ mắt không rõ nguồn gốc, không lạm dụng corticoid tại mắt và không áp dụng các biện pháp dân gian chưa được kiểm chứng.

Từ thực tế cơ sở, tuyến y tế cơ sở không cần làm thay bệnh viện chuyên khoa mắt, nhưng hoàn toàn có thể làm tốt những việc đơn giản nhưng mang lại giá trị rất lớn. Đó là lồng ghép hỏi về thị lực trong quản lý bệnh không lây nhiễm, chăm sóc người cao tuổi, khám sức khỏe học đường và truyền thông giáo dục sức khỏe; tổ chức sàng lọc thị lực cơ bản; phát hiện các trường hợp nghi ngờ; lập danh sách nhóm nguy cơ cao; tư vấn và chuyển tuyến; theo dõi người bệnh sau phẫu thuật đục thủy tinh thể hoặc sau điều trị các bệnh mắt mạn tính; hỗ trợ người bệnh tuân thủ lịch tái khám. Nếu những việc này được làm thường xuyên, làm đúng và có sự kết nối chặt chẽ với tuyến chuyên khoa, hiệu quả mang lại sẽ rất lớn.

 Ảnh minh họa (Internet)

Bên cạnh đó, công tác phòng, chống mù lòa cần đặc biệt quan tâm đến yếu tố công bằng trong tiếp cận. Người cao tuổi sống một mình, người nghèo, người khuyết tật, người mắc bệnh mạn tính, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn là những nhóm có nguy cơ suy giảm thị lực cao hơn nhưng lại dễ bị bỏ sót nhất. Vì vậy, cần huy động cả hệ thống chính trị và cộng đồng cùng tham gia: Hội Người cao tuổi giúp rà soát người già giảm thị lực; nhà trường giúp phát hiện sớm tật khúc xạ học đường; cộng tác viên dân số, y tế và tổ dân phố hỗ trợ truyền thông, nhắc lịch; gia đình theo dõi thay đổi trong sinh hoạt của người thân; chính quyền địa phương hỗ trợ tổ chức các điểm khám, truyền thông và kết nối nguồn lực.

Từ những nội dung trên, trong thời gian tới chúng ta cần ưu tiên một số nhiệm vụ trọng tâm sau: Thứ nhất, lồng ghép chăm sóc mắt vào quản lý sức khỏe theo vòng đời tại y tế cơ sở; Thứ hai, gắn nội dung đo thị lực, sàng lọc thị lực cơ bản và tư vấn chăm sóc mắt vào các đợt khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho người dân; Thứ ba, chuẩn hóa quy trình sàng lọc đơn giản tại tuyến cơ sở, bảo đảm phát hiện sớm, tư vấn đúng và chuyển tuyến kịp thời; Thứ tư, lập danh sách quản lý nhóm nguy cơ cao để theo dõi liên tục thay vì chỉ khám theo từng đợt; Thứ năm, đổi mới truyền thông theo hướng cụ thể, dễ nhớ, dễ thực hiện; Thứ sáu, tăng cường kết nối giữa các Trạm Y tế và bệnh viện/phòng khám chuyên khoa Mắt, để người bệnh được tiếp cận đúng nơi, đúng thời điểm và có phản hồi sau điều trị.

Từ góc nhìn cộng đồng, phòng, chống mù lòa cần được tiếp cận bằng những việc làm gần dân, sát dân và duy trì thường xuyên. Đó là chuyển từ “đợi người bệnh đến khám” sang “chủ động phát hiện sớm tại cộng đồng”; từ “khám theo chiến dịch” sang “quản lý liên tục”; từ “truyền thông chung chung” sang “hướng dẫn hành vi cụ thể”; từ “việc riêng của chuyên khoa mắt” sang “nhiệm vụ chung của y tế cơ sở, nhà trường, gia đình, đoàn thể và chính quyền địa phương”.

Nếu làm tốt từ cơ sở, phát hiện sớm tại cộng đồng, quản lý tốt nhóm nguy cơ và kết nối hiệu quả với tuyến chuyên khoa, chúng ta hoàn toàn có thể giảm được nhiều trường hợp mù lòa, góp phần nâng cao chất lượng sống cho người dân và thực hiện mục tiêu chăm sóc sức khỏe toàn dân một cách thiết thực, công bằng và bền vững.

Theo baovephapluat.vn

Mới nhất

Từ ngày 1/7 có 137 bệnh được thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi

Bộ Y tế vừa ban hành Thông tư số 11/2026/TT-BYT quy định cụ thể về Danh mục các bệnh được thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi nhằm phục vụ công tác chẩn đoán và điều trị bệnh lý. Danh mục bao gồm 137 bệnh/hội chứng được tiết lộ.

Tin liên quan