Doanh thu kỹ thuật số ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập của các nhà sáng tạo nội dung. Tuy nhiên, đây cũng là nguồn doanh thu dễ bị tổn thương trước nguy cơ xâm phạm bản quyền, đặt ra yêu cầu xây dựng hạ tầng công nghệ và dữ liệu phù hợp để bảo vệ quyền lợi của nghệ sĩ, nhà sáng tạo.
Khoảng trống trên hành trình phát triển công nghiệp văn hóa số
Chia sẻ tại buổi thảo luận về “Ứng dụng Công nghệ toàn diện mở lối Văn hoá số phát triển”, Luật sư Phan Vũ Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Sở hữu Trí tuệ TP HCM cho rằng, công nghiệp văn hóa đang là lĩnh vực giàu tiềm năng và Việt Nam cần có những bước đi mạnh mẽ hơn để gia tăng đóng góp của ngành vào nền kinh tế.
Theo ông Tuấn, doanh thu toàn ngành hiện đóng góp khoảng 4% GDP, còn khá xa so với một số quốc gia có nền công nghiệp văn hóa phát triển. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đặt mục tiêu nâng tỷ trọng đóng góp của ngành công nghiệp văn hóa lên 9% vào năm 2045, cùng với định hướng thúc đẩy số hóa các sản phẩm văn hóa.
Dẫn báo cáo của UNESCO, ông Tuấn cho biết, doanh thu kỹ thuật số hiện chiếm khoảng 35% thu nhập của người sáng tạo, tăng mạnh so với mức 17% vào năm 2018. Tuy nhiên, sự chuyển dịch này cũng kéo theo nhiều rủi ro về thu nhập và nguy cơ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ.
![]() |
| Luật sư Phan Vũ Tuấn, Phó Chủ tịch Hội Sở hữu Trí tuệ TP HCM chia sẻ ý kiến. |
Theo Luật sư Phan Vũ Tuấn, một trong những vấn đề Việt Nam cần giải quyết là sự thiếu hụt các nền tảng phân phối nội dung số do hiện nay phần lớn hoạt động vẫn phụ thuộc vào các nền tảng toàn cầu.
“Ví dụ như các video ca nhạc và nền tảng YouTube. Toàn bộ hệ thống và nền công nghiệp âm nhạc Việt Nam phải dựa vào một bên ở nước ngoài, không hề giao quyền cho bất cứ tổ chức pháp lý nào mà thông qua các MCN (mạng lưới đa kênh)”, ông Tuấn nói.
Ông cũng cho rằng, Việt Nam đang thiếu một hệ thống dữ liệu thống nhất để quản lý và kết nối hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Mỗi năm, Việt Nam công bố hàng trăm nghìn tác phẩm nhưng số lượng tác phẩm được cấp mã từ Việt Nam còn rất hạn chế, trong khi dữ liệu về các tác phẩm sử dụng mã nước ngoài chưa được thống kê đầy đủ.
“Vấn đề thứ hai là hạ tầng dữ liệu. Nếu không xây dựng được hạ tầng dữ liệu thống nhất, các sản phẩm và dữ liệu sẽ tiếp tục rời rạc, không thể liên thông và tạo ra giá trị cho toàn ngành”, ông Tuấn nhận định.
Phó Chủ tịch Hội Sở hữu Trí tuệ TP HCM cho biết thêm, công nghệ hiện đại đã hỗ trợ đáng kể trong việc truy vết các đối tượng sản xuất hàng giả, xâm phạm bản quyền. Đây cũng là thời điểm để các doanh nghiệp chủ động cung cấp bằng chứng vi phạm và phối hợp với cơ quan chức năng.
“Đây là thời điểm tốt nhất để làm vì bộ máy xử lý xâm phạm của cơ quan nhà nước đang thực thi việc này rất mạnh”, ông Tuấn nói.
![]() |
| Các nhà sáng tạo nội dung cần khung pháp lý rõ ràng để bảo vệ bản thân cũng như không vi phạm những quy định của pháp luật. |
Xây dựng nền tảng niềm tin cho nghệ sĩ và người hâm mộ
Ông Nguyễn Thế Vinh, Đồng sáng lập, CEO Ninety Eight & FANOS cho rằng, ngành công nghiệp văn hóa số Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc nhiều vào các nền tảng mạng xã hội quốc tế. Điều này khiến dữ liệu về nghệ sĩ và người hâm mộ phần lớn nằm trên các hệ thống bên ngoài, trong khi giá trị của một cộng đồng đôi khi được đánh giá chủ yếu qua lượt xem, lượt theo dõi.
“Chúng tôi mong muốn xây dựng một nền tảng được tạo nên từ niềm tin, tình yêu và sự kết nối giữa con người với con người, thay vì chỉ chạy theo những chỉ số lượt xem”, ông Nguyễn Thế Vinh chia sẻ.
Theo ông Vinh, một trong những vấn đề đặt ra đối với ngành công nghiệp văn hóa hiện nay là chưa có cơ chế ghi nhận đầy đủ quá trình đồng hành của người hâm mộ với nghệ sĩ. Những hoạt động như tham dự các chương trình biểu diễn, sở hữu sản phẩm, tương tác hay ủng hộ nghệ sĩ nếu được số hóa và lưu trữ có thể trở thành nguồn dữ liệu phản ánh rõ hơn mức độ gắn bó của từng người hâm mộ với cộng đồng.
“Một triệu người theo dõi hôm nay thực chất chỉ là những con số. Chúng ta chưa có cơ chế để khắc họa chân dung của từng người hâm mộ cũng như ghi nhận những đóng góp của họ”, ông Vinh nói.
Từ góc nhìn này, ông cho rằng dữ liệu không chỉ giúp nghệ sĩ hiểu rõ hơn về cộng đồng của mình mà còn mở ra khả năng xây dựng những phương thức kết nối, tri ân và chăm sóc người hâm mộ dựa trên mức độ đồng hành thực tế, thay vì chỉ dựa vào số lượng người theo dõi.
Bên cạnh mối quan hệ giữa nghệ sĩ và người hâm mộ, ông Vinh cũng cho rằng công nghệ có thể được ứng dụng để giải quyết các bài toán về bản quyền và sở hữu trí tuệ. Việc số hóa và xác thực thông tin về tác phẩm, người sở hữu hay quá trình sử dụng nội dung có thể góp phần hình thành một hệ thống dữ liệu minh bạch hơn, qua đó hỗ trợ bảo vệ quyền lợi của các nhà sáng tạo.
“FANOS là hạ tầng chuyển những tình yêu và sự đồng hành của người hâm mộ thành dữ liệu, thành kết nối và thành quyền sở hữu, từ đó tạo nên một hệ sinh thái được gắn kết bằng trải nghiệm và cảm xúc”, ông Vinh chia sẻ.
![]() |
| Công nghệ mở lối cho văn hóa số phát triển. |
Làm thế nào để nhà sáng tạo gia tăng giá trị trong kỷ nguyên số?
Trong khi đó, bà Phạm Đăng Anh Thư, Nhà sáng lập thương hiệu JoliPoli cho biết, tình trạng xâm phạm bản quyền và sao chép thiết kế đã diễn ra phổ biến trong ngành thời trang, gây khó khăn cho nhiều thương hiệu thiết kế trong nước.
Theo bà, vấn đề đặt ra là liệu các công nghệ mới có thể hỗ trợ doanh nghiệp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ hiệu quả hơn hay không.
Ở góc độ nghệ sĩ, Rapper Pjpo, nghệ sĩ đầu tiên phát hành album trên Blockchain tại Việt Nam cho rằng, việc ứng dụng công nghệ này từng mang lại những kết quả tích cực. Tuy nhiên, để Blockchain thực sự tạo ra giá trị khác biệt, người hâm mộ cần có thêm nhiều trải nghiệm để hiểu rõ hơn những lợi ích mà công nghệ mang lại.
Các chuyên gia đánh giá Blockchain, AI và dữ liệu lớn có thể hỗ trợ truy vết vi phạm bản quyền, đo lường hiệu quả truyền thông và tạo nền tảng phát triển bền vững cho ngành công nghiệp văn hóa số. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng dữ liệu, khung pháp lý và các nền tảng số phục vụ cộng đồng sáng tạo.
Theo baovephapluat.vn


