Theo Bao Cong ly – Doc bai goc
Từ những chiếc trống Đọi Tam với kỹ thuật “da trâu, tang mít”, trống Bình An được truyền qua 5 thế hệ đến những chiếc trống Tây Nguyên gắn với nhiều nghi lễ linh thiêng, không gian trưng bày “Nhất trống – Một tiếng trống – Ngàn năm văn hiến” đưa công chúng đến với những câu chuyện đặc biệt phía sau một nhạc cụ quen thuộc của người Việt.
Đặt tại hậu viên Văn Miếu – Quốc Tử Giám, trưng bày “Nhất trống – Một tiếng trống – Ngàn năm văn hiến” là một trong những hoạt động văn hóa thuộc Festival Thăng Long – Hà Nội lần thứ II năm 2026, đồng thời hướng tới kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076 – 2026).
Không chỉ giới thiệu những chiếc trống đến từ các vùng miền, trưng bày còn giúp người xem tìm hiểu về kỹ thuật chế tác, quá trình lưu truyền nghề và những giá trị văn hóa, tín ngưỡng gắn với tiếng trống trong đời sống cộng đồng.
Làng trống Đọi Tam, Ninh Bình có lịch sử hơn 1.000 năm. Theo truyền thuyết, năm 986, hai anh em Nguyễn Đức Năng và Nguyễn Đức Bản làm trống để đón vua Lê Đại Hành về cày ruộng tịch điền. Từ đó, nghề làm trống được duy trì và truyền lại qua nhiều thế hệ.

Tại không gian trưng bày, ông Phạm Trí Trong, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề trống Đọi Tam, giới thiệu với du khách những nét đặc trưng của nghề làm trống quê hương.
Theo ông Trong, người Đọi Tam vẫn lưu giữ những nguyên tắc riêng trong chế tác. Tang trống phải sử dụng gỗ mít, còn mặt trống được bưng bằng da trâu. Kỹ thuật này được đúc kết trong câu nói quen thuộc của người làm nghề: “Da trâu, tang mít. Đánh ít, kêu nhiều”.
Trống Đọi Tam có hình dáng bầu đặc trưng, tỷ lệ giữa mặt và tang được tính toán cân đối. Đằng sau mỗi sản phẩm là quá trình lựa chọn gỗ, xử lý da trâu, bưng mặt trống và điều chỉnh âm thanh.

Nhờ kinh nghiệm được tích lũy qua nhiều thế hệ, những người thợ có thể tạo ra nhiều cung âm khác nhau, từ cao đến trầm, từ âm lượng lớn đến nhỏ, đáp ứng nhu cầu sử dụng trong đình, chùa, các nghi lễ hay trường học.

Một nét đặc biệt khác của nghề làm trống Đọi Tam là truyền nghề chủ yếu cho con trai. Bên cạnh yêu cầu về sức khỏe trong quá trình chế tác, đây còn được xem là cách nhiều gia đình duy trì bí quyết nghề và đặc trưng của làng nghề.
Nếu Đọi Tam gây ấn tượng bởi lịch sử hơn một thiên niên kỷ thì làng trống Bình An, Tây Ninh lại được nhắc đến với câu chuyện của một gia đình đã có 5 đời theo nghề, kéo dài hơn 170 năm.
Nghệ nhân Nguyễn Văn An cho biết nghề làm trống tại làng từng gặp nhiều khó khăn trong thời gian dịch COVID-19. Nhiều nghệ nhân lớn tuổi dừng công việc, nhưng gia đình ông vẫn tiếp tục duy trì nghề truyền thống.
Không chỉ một người, hiện 3 – 4 thành viên trong gia đình ông cùng tham gia làm trống. Đây là trường hợp không phổ biến tại làng nghề.
Để thích ứng với nhu cầu của thị trường, ông An dành thời gian nghiên cứu kiểu dáng và âm thanh, tạo ra những mẫu trống có hình thức đa dạng hơn. Tại trưng bày “Nhất trống”, những sản phẩm của gia đình ông nổi bật với màu sắc phong phú, đồng thời có đặc điểm âm thanh khác với trống Đọi Tam.
Với nghệ nhân Nguyễn Văn An, nghề làm trống đòi hỏi sự kiên trì và tình yêu nghề. Dù công việc vất vả, ông vẫn khuyến khích các con tiếp tục theo nghề, nối dài truyền thống gia đình.
Thực tế, nhu cầu sử dụng trống trong các lễ hội, đình, chùa và trường học những năm gần đây vẫn khá lớn, tạo điều kiện để các làng nghề tiếp tục duy trì sản xuất.
Trong khi đó, trống Tây Nguyên lại đứng trước nguy cơ ngày càng khan hiếm bởi quá trình chế tác gắn với những tập tục đặc biệt.

Một trong những điểm thu hút sự chú ý tại trưng bày là bộ sưu tập trống Tây Nguyên của nhà sưu tập, Thượng tá Đặng Minh Tâm, nguyên cán bộ Công an tỉnh Lâm Đồng.
Có nhiều thập kỷ gắn bó với đồng bào Tây Nguyên, ông Tâm dần dành sự quan tâm đặc biệt cho văn hóa nơi đây và bắt đầu sưu tầm các hiện vật. Trong bộ sưu tập hơn 30.000 hiện vật văn hóa Tây Nguyên, những chiếc trống là nhóm hiện vật ông đặc biệt yêu thích.
Theo ông Tâm, mỗi chiếc trống Tây Nguyên gắn với một câu chuyện và mang ý nghĩa thiêng liêng riêng.
Cách chế tác trống cũng có sự khác biệt giữa các khu vực. Ở Bắc Tây Nguyên, trống được làm bằng da trâu cái; tại Trung Tây Nguyên, một chiếc trống có thể sử dụng hai mặt với da trâu đực và trâu cái. Trong khi đó, tại Nam Tây Nguyên, gồm Lâm Đồng và Đắk Nông, người dân sử dụng da nai để làm trống do trâu có giá trị cao.
Trống da của người Tây Nguyên thường có lớp da dày, ít được bào và mặt trống không căng như nhiều loại trống ở những vùng khác. Đặc điểm ấy tạo nên âm thanh trầm, vang, gợi liên tưởng tới không gian núi rừng.
Đặc biệt, trống trong văn hóa Tây Nguyên không đơn thuần là một nhạc cụ. Người dân coi trống là vật thiêng, có thần trống và vì vậy quá trình làm, sử dụng, bảo quản đều gắn với những quy định riêng.
Theo ông Tâm, những gia đình muốn làm trống trước đây phải thực hiện các nghi thức cúng thần cây, thần trống, thần trời, thần rừng. Sau đó, một nhóm gồm 7 người thợ mới được mời đến chế tác.
Tang trống được làm từ một thân cây gỗ độc mộc, thay vì ghép nhiều mảnh gỗ. Vì vậy, người thợ phải vào rừng tìm những thân cây đủ lớn, thẳng, không cụt ngọn và không bị dây leo quấn quanh để tạo nên chiếc trống.
Nhiều tập tục đặc biệt còn được duy trì quanh chiếc trống. Người Tây Nguyên có quan niệm trống cũng cần được “lắng nghe”, vì vậy một số chiếc trống được làm cả phần “tai” để có thể nghe tiếng của thần linh.
Trong không gian sinh hoạt cộng đồng, trống cũng được đặt ở vị trí trang trọng. Tại nhà rông, trống được treo ở chính giữa; trong nhà dài, trống được đặt trên ghế Kpan – một vị trí linh thiêng. Người đến thăm không tùy tiện chạm vào, quay lưng hoặc đánh trống bởi những hành động này được xem là thiếu tôn trọng với thần linh.
Những yêu cầu nghiêm ngặt trong quá trình chế tác cùng sự thay đổi của đời sống khiến việc làm một chiếc trống Tây Nguyên theo đầy đủ tập tục truyền thống ngày càng khó thực hiện.
Bên cạnh đó, nhiều lễ hội truyền thống như Pơ Thi (bỏ mả), Tết mừng lúa mới, Tết cúng bến nước… được tổ chức ít hơn trước. Điều này cũng khiến sự xuất hiện của trống trong đời sống cộng đồng Tây Nguyên ngày càng thưa dần.
Trong bối cảnh đó, việc lưu giữ những chiếc trống và câu chuyện phía sau chúng trở thành một cách để bảo tồn ký ức văn hóa.
Với hàng chục năm gắn bó cùng đồng bào Tây Nguyên, ông Đặng Minh Tâm đã sưu tầm và bảo quản nhiều chiếc trống, đưa các hiện vật đến trưng bày ở nhiều địa phương để công chúng có thêm cơ hội tìm hiểu về văn hóa trống của vùng đất đại ngàn.
Từ Đọi Tam, Bình An đến Tây Nguyên, mỗi vùng đất tạo nên một tiếng trống riêng. Nhưng phía sau những âm thanh tưởng như quen thuộc ấy là câu chuyện về nghề, về gia đình, cộng đồng và những giá trị văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Trưng bày “Nhất trống – Một tiếng trống – Ngàn năm văn hiến” vì thế không chỉ đưa những chiếc trống đến gần công chúng, mà còn mở ra một hành trình khám phá những giá trị văn hóa được gửi gắm trong từng tiếng trống của ba miền đất nước.