Theo Bao Cong ly – Doc bai goc
Đối với triển vọng nửa cuối năm 2026, TCBS Research chỉ ra ba yếu tố rủi ro cần tiếp tục theo dõi để đánh giá đầy đủ “sức khỏe” của từng ngân hàng.
Ngành ngân hàng đang trở thành tâm điểm, khi câu chuyện lãi suất chưa có nhiều dấu hiệu hạ nhiệt. Bên cạnh đó, chất lượng tài sản ngành ngân hàng cũng đang nhận được sự chú ý, theo báo cáo mới nhất của TCBS Research.

TCBS Research chỉ ra ba yếu tố rủi ro cần tiếp tục theo dõi để đánh giá đầy đủ “sức khỏe” của từng ngân hàng.
Yếu tố đầu tiên là xu hướng đi lên của nợ nhóm 2. Tỷ lệ nợ nhóm 2 của 27 ngân hàng đã tăng hai quý liên tiếp lên mức 1,38% vào cuối quý II.
Báo cáo ghi nhận 15/27 ngân hàng có nợ nhóm 2 cao hơn cùng kỳ năm trước, trong đó tăng đáng kể nhất là Saigonbank, Sacombank, PG Bank và VietBank. Vì các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày có khả năng chuyển nhóm nợ cao hơn, TCBS Research dự báo tỷ lệ nợ xấu toàn ngành có thể tăng nhẹ trong các quý tới khi các khoản nợ này được phân loại lại.
Yếu tố thứ hai nằm ở mối tương quan giữa nợ xấu mới hình thành và năng lực xử lý nợ bằng dự phòng. Trong 6 tháng đầu năm, khối lượng nợ xấu hình thành mới đạt hơn 104.000 tỷ đồng, gấp 1,8 lần lượng nợ được các ngân hàng xử lý bằng quỹ dự phòng.
Khoảng chênh lệch gần 47.000 tỷ đồng này khiến quy mô nợ xấu toàn ngành tăng lên 310.000 tỷ đồng. Theo TCBS Research, với những ngân hàng có tỷ lệ dự phòng đã trích lập dưới 60% nợ xấu, việc giảm tỷ lệ nợ xấu trong hai quý tới thông qua công cụ xử lý dự phòng sẽ cần thêm thời gian và phụ thuộc nhiều vào kết quả kinh doanh.
Yếu tố thứ ba đến từ các khoản mục tín dụng nằm ngoài dư nợ cho vay truyền thống, đặc biệt là khoản lãi và phí phải thu. Số dư lãi và phí phải thu toàn ngành đạt 230.745 tỷ đồng, tương đương 1,50% dư nợ, tăng 36,1% so với cùng kỳ và cao gấp đôi tốc độ tăng trưởng tín dụng.
Lãi và phí phải thu (lãi dự thu) là phần lãi đã hạch toán vào thu nhập theo dự thu nhưng khách hàng chưa trả, trong khi khoản vay vẫn được xếp nhóm 1. Chỉ khi khoản vay chuyển sang nhóm 2 trở lên, ngân hàng mới thoái phần lãi này khỏi thu nhập.
Tại một số đơn vị quy mô vừa và nhỏ như VietABank, Bac A Bank, VietBank, MSB hay Nam A Bank, số dư này tương đương từ 87% đến 202% tổng thu nhập hoạt động 12 tháng gần nhất. TCBS Research lưu ý, hiện tượng này phản ánh một phần dư nợ nhóm 1 đang chậm trả lãi, điều mà tỷ lệ nợ xấu chưa thể hiện hết.
Ở góc độ thị trường, TCBS Research nhận thấy mức định giá cổ phiếu và chất lượng tài sản thực tế giữa các ngân hàng đang chưa tương xứng. Tính đến giữa tháng 9/2026, chỉ số giá trên giá trị sổ sách (P/B) trung vị của toàn ngành ở mức 1,17 lần.
Dữ liệu cho thấy thị trường đang chấp nhận trả mức định giá cao cho các ngân hàng có tỷ suất sinh lời tốt và câu chuyện riêng, song chưa phản ánh đầy đủ yếu tố rủi ro tài sản. Cả 6 ngân hàng có chất lượng tài sản suy giảm đều đang giao dịch ở mức P/B cao hơn trung vị ngành, như Sacombank ở mức 2,32 lần hay LPBank ở mức 3,24 lần.
Ở chiều ngược lại, nhóm ngân hàng có chất lượng tài sản và bộ đệm dự phòng ổn định như Vietcombank, Techcombank, ACB, MB và VietinBank đang giao dịch ở mức định giá phù hợp.