Theo Bao Cong ly – Doc bai goc
Định giá tài sản trí tuệ (SHTT) là “điểm nghẽn” lớn trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Quyết định 1624/QĐ-TTg ra đời nhằm tháo gỡ vướng mắc này, thí điểm định giá ít nhất 100 quyền SHTT, từng bước biến SHTT thành tài sản kinh tế thực sự.
Định giá tài sản vô hình từ lâu được xem là một trong những điểm nghẽn lớn đối với quá trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu, khiến không ít sản phẩm, công nghệ dù đã hình thành từ phòng thí nghiệm nhưng vẫn gặp khó khăn khi tiếp cận thị trường. Nhằm tháo gỡ điểm nghẽn này, Quyết định số 1624/QĐ-TTg đặt mục tiêu thúc đẩy mạnh mẽ các giao dịch quyền sở hữu trí tuệ (SHTT), qua đó tạo thêm động lực đưa tài sản trí tuệ tham gia sâu hơn vào nền kinh tế.

Theo đó, ít nhất 100 quyền SHTT thuộc sở hữu của các viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo sẽ được đưa vào diện thí điểm hỗ trợ xác định giá trị. Đây được xem là một trong những giải pháp then chốt trong nhóm chính sách tổng thể nhằm thúc đẩy quyền SHTT trở thành tài sản có thể được khai thác và giao dịch hiệu quả trên thị trường.
Cùng với việc hỗ trợ định giá, hành lang pháp lý cho các giao dịch quyền SHTT sẽ tiếp tục được hoàn thiện. Các quy định pháp luật sẽ từng bước tạo điều kiện để quyền SHTT tham gia thuận lợi hơn vào các hoạt động thương mại như góp vốn, giao dịch bảo đảm, định giá, kế toán, kiểm toán và khai thác trên thị trường.
Đối với các quyền SHTT được hình thành từ hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có sử dụng ngân sách nhà nước, các cơ chế, chính sách về tài chính, tín dụng và ưu đãi cũng sẽ được đồng bộ, hoàn thiện. Mục tiêu là khai thác hiệu quả hơn nguồn tài sản trí tuệ được tạo ra từ nguồn lực công, đồng thời tạo điều kiện để các kết quả nghiên cứu có thể tiếp tục được đầu tư, phát triển và thương mại hóa.
Chiến lược xác định ba chủ thể cốt lõi trong quá trình tạo lập và khai thác quyền SHTT gồm viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp. Điểm đáng chú ý là các chỉ số đo lường về SHTT sẽ được sử dụng như một trong những thước đo, căn cứ đánh giá hiệu quả hoạt động của các đơn vị này.
Đối với các kết quả nghiên cứu có nguồn từ ngân sách nhà nước, yêu cầu đặt ra với các viện nghiên cứu và trường đại học cũng được nâng lên. Theo đó, các đơn vị phải xác định rõ những đối tượng quyền SHTT cần đạt được trong quá trình triển khai nhiệm vụ nghiên cứu.
Song song với đó, các chương trình khoa học và công nghệ sẽ hỗ trợ viện nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm đổi mới sáng tạo tăng cường hợp tác với doanh nghiệp. Mục tiêu là thúc đẩy quá trình nghiên cứu theo hướng gắn với nhu cầu thực tiễn, tạo ra các kết quả có khả năng được bảo hộ quyền SHTT và sẵn sàng cho quá trình thương mại hóa.
Không chỉ dừng ở việc bảo hộ kết quả nghiên cứu, quyền SHTT còn được xác định là công cụ thúc đẩy phát triển các ngành, lĩnh vực trọng điểm. Thông qua việc tạo lập và khai thác hiệu quả tài sản trí tuệ, chính sách hướng tới hình thành các công nghệ nguồn, công nghệ lõi cùng những sản phẩm, dịch vụ có lợi thế cạnh tranh cao.
Qua đó, quyền SHTT được kỳ vọng chuyển từ vai trò chủ yếu là công cụ bảo hộ sang trở thành một tài sản kinh tế có khả năng định giá, giao dịch, huy động nguồn lực và tạo giá trị trên thị trường, góp phần rút ngắn khoảng cách từ kết quả nghiên cứu đến sản phẩm thương mại.